18/08/2010 03:43
Luật An toàn thực phẩm: Bộ Y tế chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm

Bà Trần Việt Nga, Trưởng phòng Pháp chế - Hội nhập, Cục An toàn Vệ sinh Thực phẩm, Bộ Y tế cho biết, Luật An toàn thực phẩm đã được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XII kỳ họp thứ 7 thông qua ngày 17 tháng 6 năm 2010. Luật gồm 11 chương và 72 điều. Luật có nhiều điểm mới so với Pháp lệnh Vệ sinh An toàn Thực phẩm số 12/2003/PL-UBTVQH11 ban hành ngày 26 tháng 7 năm 2003.

Chương I: Những quy định chung, gồm 6 điều (từ điều 1 đến điều 6). Chương này có một số điểm mới so với Pháp lệnh, đó là các thuật ngữ được cập nhật và làm rõ; nguyên tắc quản lý an toàn thực phẩm xuyên suốt từ trang trại đến bàn ăn. Đồng thời, Luật quy định rõ mức phạt tiền đối với vi phạm hành chính được thực hiện theo quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính; trường hợp áp dụng mức phạt cao nhất theo quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính mà vẫn còn thấp hơn 07 lần giá trị thực phẩm vi phạm thì mức phạt được áp dụng không quá 07 lần giá trị thực phẩm vi phạm.

Chương II: Quyền và nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân trong bảo đảm an toàn thực phẩm, gồm 3 điều (từ điều 7 đến điều 9). Chương này quy định về quyền và nghĩa vụ của 3 nhóm đối tượng: tổ chức, cá nhân sản xuất thực phẩm; tổ chức, cá nhân kinh doanh thực phẩm và người tiêu dùng thực phẩm.

Chương III: Điều kiện bảo đảm an toàn đối với thực phẩm, gồm 9 điều (từ điều 10 đến điều 18). Đây là một chương hoàn toàn mới so với Pháp lệnh. Chương này quy định: thực phẩm bên cạnh bảo đảm các điều kiện chung còn phải bảo đảm thêm một số điều kiện riêng (đối với từng nhóm thực phẩm cụ thể như thực phẩm tươi sống, thực phẩm đã qua chế biến, thực phẩm tăng cường vi chất dinh dưỡng...). 

Chương IV: Điều kiện bảo đảm an toàn trong sản xuất, kinh doanh thực phẩm, gồm 15 điều (từ điều 19 đến điều 33). Điểm khác biệt so với Pháp lệnh là chương này quy định riêng đối với cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm nhỏ lẻ và giao Bộ chuyên ngành quy định điều kiện cho từng loại hình cho phù hợp và khả thi; có một mục riêng quy định về điều kiện bảo đảm an toàn trong kinh doanh thức ăn đường phố.

Chương V: Chứng nhận cơ sở đủ điều kiện an toàn thực phẩm trong sản xuất, kinh doanh thực phẩm, gồm 4 điều (từ điều 34 đến điều 37). Điểm khác biệt của chương này so với Pháp lệnh là Giấy chứng nhận cơ sở đủ điều kiện an toàn thực phẩm có hiệu lực trong thời gian 3 năm; trước 6 tháng tính đến ngày Giấy chứng nhận hết hạn, tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh thực phẩm phải nộp hồ xin cấp lại Giấy chứng nhận trong trường hợp tiếp tục sản xuất, kinh doanh (theo Pháp lệnh Giấy này không có thời hạn).

Chương VI: Xuất khẩu và nhập khẩu thực phẩm, gồm 5 điều (từ điều 38 đến điều 42). Chương này đưa ra các quy định chặt chẽ hơn về điều kiện an toàn đối với thực phẩm xuất khẩu, nhập khẩu.

Chương VII: Quảng cáo và ghi nhãn thực phẩm, gồm 2 điều (từ điều 43 đến điều 44). Chương này đưa ra các quy định về nội dung quảng cáo thực phẩm, chỉ được tiến hành quảng cáo thực phẩm khi đã được thẩm định nội dung và chỉ được quảng cáo đúng nội dung đã được xác nhận…

Chương VIII: Kiểm nghiệm thực phẩm, phân tích nguy cơ đối với an toàn thực phẩm, phòng ngừa, ngăn chặn và khắc phục sự cố về an toàn thực phẩm, gồm 11 điều (từ điều 45 đến điều 55). Chương này cũng là chương hoàn toàn mới so với Pháp lệnh. Chương này quy định phải tiến hành các hành động phân tích nguy cơ đối với an toàn thực phẩm bao gồm: đánh giá nguy cơ, quản lý nguy cơ và truyền thông về nguy cơ. Đồng thời, quy định rõ trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh thực phẩm và trách nhiệm của cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong việc truy xuất nguồn gốc, thu hồi và xử lý đối với thực phẩm không an toàn.

 Chương IX: Thông tin, giáo dục truyền thông về an toàn thực phẩm, gồm 5 điều (từ điều 56 đến điều 60). Chương này quy định về mục đích, yêu cầu, nội dung, đối tượng tiếp cận, hình thức và trách nhiệm trong thông tin giáo dục truyền thông an toàn thực phẩm.

Chương X: Quản lý Nhà nước về an toàn thực phẩm, gồm 10 điều (từ điều 31 đến điều 70). Chương này có những điểm mới so với Pháp lệnh: Luật An toàn thực phẩm đã phân công trách nhiệm quản lý nhà nước cho 3 Bộ: Bộ Y tế, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Công thương. Đồng thời, quy định cụ thể hơn trách nhiệm quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm cho Uỷ ban Nhân dân các cấp. Bộ Y tế chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm nên Bộ Y tế có trách nhiệm thanh tra, kiểm tra đột xuất đối với toàn bộ quá trình sản xuất, nhập khẩu, kinh doanh thực phẩm thuộc phạm vi quản lý của các bộ khác khi cần thiết.

Chương XI. Điều khoản thi hành gồm 2 điều (từ điều 71 đến điều 72). Luật An toàn thực phẩm có hiệu lực thi hành từ ngày 1/7/2011. Pháp lệnh Vệ sinh An toàn Thực phẩm số 12/2003/PL-UBTVQH11 ngày 26 tháng 7 năm 2003 hết hiệu lực kể từ ngày Luật An toàn thực phẩm có hiệu lực.

Để Luật An toàn thực phẩm sớm được thực thi, Cục An toàn Vệ sinh thực phẩm đang tập trung xây dựng dự thảo Nghị định và Thông tư hướng dẫn thực hiện Luật.

Phạm Duy
Các bài đã đăng