17/11/2011 04:23
Chiến lược quốc gia về chăm sóc sức khỏe sinh sản giai đoạn 2001 – 2010 đã đạt được nhiều chỉ tiêu quan trọng

Nhằm cải thiện tình trạng sức khoẻ sinh sản (SKSS) và giảm được sự chênh lệch giữa các vùng và các đối tượng bằng cách đáp ứng tốt hơn những nhu cầu đa dạng về chăm sóc SKSS. Ngày 28/11/2000, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Chiến lược Quốc gia về chăm sóc SKSS giai đoạn 2001 - 2010 với 7 mục tiêu cụ thể. Đến nay, công tác tổng kết việc thực hiện Chiến lược Quốc gia về chăm sóc SKSS giai đoạn 2001 – 2010 đã được triển khai rất nghiêm túc. Về cơ bản đến năm 2010 các chỉ tiêu chung đều đạt được kết quả khả quan. Nếu tính bình quân cả nước các chỉ tiêu đều hoàn thành nhưng nếu phân tích theo vùng, miền thì kết quả lại cho thấy còn có sự khác biệt, trong đó, khu vực miền núi phía Bắc và Tây Nguyên đều có chỉ số về chăm sóc SKSS thấp hơn các khu vực khác.

 

Với mục tiêu tạo sự chuyển biến rõ rệt về nhận thức, cũng như sự ủng hộ và cam kết thực hiện các mục tiêu và các nội dung của chăm sóc SKSS trong mọi tầng lớp nhân dân, nhờ thường xuyên phổ biến trên các kênh truyền thông các nội dung về SKSS như kế hoạch hóa gia đình, làm mẹ an toàn, SKSS vị thành niên, bình đẳng giới trong chăm sóc SKSS… nên đã góp phần tích cực trong chuyển đổi về nhận thức và hành vi trong các tầng lớp nhân dân.

 

Để đạt được mục tiêu duy trì xu thế giảm sinh, nhiều biện pháp tránh thai đã được truyền thông. Tính đến năm 2009, tỷ lệ sử dụng biện pháp tránh thai đã tăng lên 79,5%. Trong đó, tỷ lệ sử dụng biện pháp tránh thai hiện đại chiếm 68,2%. Tỷ số phá thai đã giảm mạnh, xuống còn 29/100 trẻ đẻ sống. Chương trình phá thai an toàn đã được triển khai tương đối rộng khắp với chất lượng dịch vụ cải thiện rõ rệt. Tư vấn trước và sau phá thai để chấp nhận sử dụng biên pháp tránh thai đã được chú trọng ở các cơ sở y tế.

 

Việc nâng cao tình trạng sức khoẻ của phụ nữ và các bà mẹ, giảm tỷ lệ bệnh tật, tử vong mẹ, tử vong sơ sinh và tử vong trẻ em về cơ bản đến năm 2010 đã đạt được chỉ tiêu. Các dịch vụ làm mẹ an toàn đã được thực hiện đúng kỹ thuật ở các tuyến. Các tuyến y tế từ cơ sở đến trung ương đã chú trọng đến công tác chăm sóc trước sinh, trong sinh và sau sinh, hướng tới giảm tử vong mẹ và tử vong sơ sinh. Bên cạnh đó, tỷ lệ suy sinh dưỡng ở trẻ dưới 5 tuổi được đánh giá rất khả quan, đạt được mục tiêu của Chiến lược trước 2 năm.

 

Thông qua các chiến dịch truyền thông lồng ghép với các dịch vụ kế hoạch hóa gia đình, các hoạt động phòng chống các bệnh nhiễm khuẩn đường sinh sản luôn được tăng cường về số lượng lẫn chất lượng góp phần cải thiện đáng kể trong phòng ngừa và điều trị các bệnh lây truyền qua đường tình dục và HIV/AIDS. Ngoài ra, công tác tổ chức cán bộ trong hệ thống dự phòng và điều trị vô sinh đã mở rộng được mạng lưới. Đến nay, đã có 2 cơ sở y tế trong và ngoài công lập được cấp giấy phép thực hiện kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm. Các trung tâm Nam học đã được thành lập tại một số bệnh viện và khoa Nam học tại Trung tâm Chăm sóc SKSS các tỉnh, thành phố, bước đầu cung cấp các dịch vụ nam học.

 

Một số dịch vụ chăm sóc SKSS cho người cao tuổi như phát hiện sớm ung thư vú và ung thư cổ tử cung đã bắt đầu được đưa vào Chương trình phòng chống Ung thư cổ tử cung và triển khai ở một số địa phương. Ở một số tỉnh, thành phố bước đầu thử nghiệm tiêm vắc xin phòng chống ung thư cổ tử cung đã thu được nhiều kết quả khả quan.

 

Mục tiêu cải thiện tình hình sức khoẻ sinh sản, sức khoẻ tình dục của vị thành niên đã được đầu tư  một cách hiệu quả. Nhiều hoạt động, dự án can thiệp về tăng cường chăm sóc sức khỏe vị thành viên được triển khai tại trường học, cộng đồng và cơ sở y tế. Hiện nay, thông qua “Kế hoạch tổng thể quốc gia về chăm sóc, bảo vệ và nâng cao sức khỏe vị thành niên và thanh niên giai đoạn 2006 – 2010 và tầm nhìn 2020” mục tiêu này càng đạt được nhiều thành tựu.

 

Ngoài ra, mục tiêu nâng cao sự hiểu biết của phụ nữ, nam giới về giới tính và tình dục để thực hiện đầy đủ quyền và trách nhiệm sinh sản, xây dựng quan hệ tình dục an toàn, có trách nhiệm, bình đẳng và tôn trọng lẫn nhau cũng được chú trọng nhận thức người dân về giới và bình đẳng giới bước đầu có nhiều chuyển biến. Bên cạnh đó, Luật Bình đẳng giới và Luật Phòng chống bạo lực gia đình ra đời càng chứng tỏ sự cam kết mạnh mẽ của Đảng, Nhà nước và Chính phủ về việc tiến tới bình đẳng giới và phòng chống bạo lực gia đình.

 

Bài: Bình An

Các bài đã đăng